Con trùng – Nguồn thức ăn tuyệt vời giàu Protein trong chăn nuôi gia cầm

Con trùng – Nguồn thức ăn tuyệt vời giàu Protein trong chăn nuôi gia cầm

Hiện nay, các nguồn protein thay thế ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi. Ở gia cầm, việc sử dụng thay thế (một phần) thức ăn con trùng bằng đậu tương trong thức ăn chăn nuôi là một ứng dụng đầy hứa hẹn. Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến chủ đề của bài viết này sẽ được giới thiệu dưới đây.

Con trùng là gì?

Côn trùng, đặc biệt là ấu trùng của ấu trùng ruồi lính đen (BSFL); có thể là một nguồn giàu protein lý tưởng để thay thế cho đậu nành; vì BSFL vốn có giá trị dinh dưỡng cao; và cũng cần không gian sinh sản của chúng. không cao. BSFL là nguồn cung cấp protein; và năng lượng tuyệt vời (chứa 37% đến 65% protein); và người ta cho rằng chúng có hàm lượng axit amin thích hợp hơn cho gia cầm (theo Barragan-Fonseca et al., 2017; Schiavone et al., 2017). Tuy nhiên, BSFL có chứa chitin; chất này sẽ có tác động tiêu cực đến quá trình tiêu hóa protein; do đó làm giảm năng suất của động vật.

Con trùng là gì?

Tác động trên chỉ tiêu năng suất tăng trưởng

Nguyên cứu

Nhiều nghiên cứu gần đây đã được tiến hành để xác định liệu BSFL có phù hợp làm thành phần của cám gia cầm; và thay thế vai trò của đậu nành hay không. Vào năm 2018; Dabbou et al. Nghiên cứu dài hạn về việc bổ sung BSFL vào cám về năng suất tăng trưởng; các chỉ số máu; và hình thái ruột của gà thịt. Trong nghiên cứu này; 265 con gà thịt được cho ăn cám từ ngày đầu tiên; và thêm 4 mức BSFL khác nhau (BSFL trong thí nghiệm này đã được khử chất béo một phần); và kéo dài đến ngày thứ 35:

  • Cám thí nghiệm chứa 0% BSF
  • Cám thí nghiệm chứa 5%
  • Cám thí nghiệm chứa 10%
  • Cám thí nghiệm chứa 15% BSFL như một sự thay thế cho đậu nành (và gluten bắp).

Nhận xét

Những cám thí nghiệm này có lượng nitrogen; và calorie bằng nhau.Những kết quả của thí nghiệm gợi ý rằng thêm lượng BSFL; vào cám ăn lên mức 10% làm tăng trọng lượng sống; và lượng tiêu thụ cám hằng ngày ở gà thịt trống; tuy nhiên chỉ ở giai đoạn ban đầu (từ 1 ngày tuổi cho đến 10 ngày tuổi). Trong suốt giai đoạn này; sự tăng trưởng; và phát triển của gà tiến triển nhanh hơn so với những giai đoạn tiếp theo sau này (giai đoạn phát triển từ 10 ngày tuổi đến 24 ngày tuổi; và giai đoạn xuất chuồng từ 24 ngày tuổi đến 35 ngày tuổi).

Lượng cám tiêu thụ; và lượng tăng trọng được nâng cao lên là nhờ vào độ ngon miệng của cám đã được cải thiện. Báo cáo thí nghiệm cũng đã đề cập rằng con gà dường như ưa chuộng cám có chứa BSFL. Trong suốt giai đoạn phát triển; và xuất chuồng; tỷ lệ chuyển đổi thức ăn; và trọng lượng sống của nhóm được cho ăn cám chứa 15% BSFL thì bị ảnh hưởng tiêu cực hơn so với nhóm được cho ăn cám chứa 5%; và nhóm được ăn 10% BSFL.

Giả thuyết bởi Dabbou và các cộng sự.; 2018 là thành phần chitin ở cám chứa 15% BSFL có thể đã gây ảnh hưởng xấu đến sự tiêu hóa protein của con gà thịt. Trái lại, một nghiên cứu khác lại phát hiện ra rằng sau 34 ngày; khi BSFL thay thế cho đậu nành trong cám thì trọng lượng sống; và trọng lượng giết mổ của gà thịt thuộc nhóm cho ăn cám chứa 16% BSFL (đã được tách béo) lại cao hơn so với trọng lượng của gà thịt thuộc nhóm đối chứng. Kết quả ghi nhận này gợi ý rằng không phải lượng chitin mà là lượng protein thô ở mức cao hơn; gần như chắc chắn; là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự tiêu hóa protein (theo như Altamann và các đồng sự., 2018).

Phẩm chất của thịt gà nuôi lấy thịt

Altmann và các đồng sự vào năm 2018 đã phân tích sự thay đổi của phẩm chất thịt; và các đặc điểm cảm nhận giác quan của miếng phi lê ức được đóng gói theo cách thức công nghiệp hiện nay bằng hệ thống HiOx MAP.

Phẩm chất của thịt gà nuôi lấy thịt

Khi còn tươi thì miếng phi lê ức từ gà thịt thuộc nhóm ăn cám chứa BSFL đã được tách béo (BSFL ở đây thay thế 50% của đậu nành) với nồng độ thêm trong cám là 19,5% trong giai đoạn ban đầu và 16% trong giai đoạn phát triển; dường như có mùi vị mạnh hơn so với miếng phi lê ức của gà thuộc nhóm đối chứng (cám không có chứa BSFL).

3 ngày sau được đóng gói thì cường độ mùi vị của phi lê ức của nhóm thí ngiệm chứa BSFL giảm xuống; và tiếp tục giảm ở 7 ngày sau khi đóng gói. Trong khi đó, cường độ mùi vị của miếng phi lê ức của nhóm đối chứng giảm khi đóng gói được 3 ngày nhưng; kỳ lạ thay; lại tăng sau khi đóng gói được 7 ngày.

Không có lý giải nào cho việc suy giảm liên tiếp của cường độ mùi vị của miếng phi lê ức thuộc nhóm gà được cho ăn BSFL. Tuy nhiên, nghiên cứu cho rằng cường độ mùi vị giảm có thể là một điểm lợi cho bán hàng; khi đặc điểm này được ưa chuộng ở một số người tiêu thụ.

Kết luận

Altmann và các đồng sự vào năm 2018 đã phân tích sự thay đổi của phẩm chất thịt; và các đặc điểm cảm nhận giác quan của miếng phi lê ức được đóng gói theo cách thức công nghiệp hiện nay bằng hệ thống HiOx MAP.

Khi còn tươi thì miếng phi lê ức từ gà thịt thuộc nhóm ăn cám chứa BSFL đã được tách béo (BSFL ở đây thay thế 50% của đậu nành) với nồng độ thêm trong cám là 19,5% trong giai đoạn ban đầu; và 16% trong giai đoạn phát triển; dường như có mùi vị mạnh hơn so với miếng phi lê ức của gà thuộc nhóm đối chứng (cám không có chứa BSFL). 3 ngày sau được đóng gói thì cường độ mùi vị của phi lê ức của nhóm thí ngiệm chứa BSFL giảm xuống; và tiếp tục giảm ở 7 ngày sau khi đóng gói.

Đọc thêm tin tức về dinh dưỡng gia cầm tại: https://ipi.com.vn/

Nguồn: nhachannuoi.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *